“Trộm cắp tài sản” hay “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”?


Hỏi: Anh A đi vào sân bóng nhân tạo đá bóng, tuy nhiên bị rơi cả chìa khóa và thẻ giữ xe. B nhặt được và ra lấy xe của A đi mất. Với tình tiết như vậy thì B bị đề nghị truy tố tội Trộm cắp tài sản, nhưng khi ra Tòa thì Tòa ko đống ý xét theo tội này, mà xử theo hướng tội lừa đảo (vì lập luận A đã giao xe cho người giữ xe, người giữ xe quản lý, nhưng B lại dùng hành vi gian dối lừa người giữ xe để lấy xe). Vậy B phạm tội gì?

Đáp: Để xem xét hành vi của B cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 138 BLHS hay “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”  theo Điều 139 BLHS thì phải xem xét ai là người quản lý tài sản và bị hại trong vụ án này.

Thứ 1: Nếu B phạm tội “Trộm cắp tài sản” thì người quản lý tài sản và bị hại ở đây là A.

Thứ 2: Nếu B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thì người quản lý tài sản và bị hại là người giữ xe.

Qua tình tiết trên thì có thể khẳng định chiếc xe của anh A đã được gửi vào bãi xe và có thẻ giữ xe (hợp đồng gửi giữ tài sản) nên trách nhiệm quản lý tài sản thuộc về người giữ xe.

B nhặt được chìa khóa và thẻ xe sau đó đưa thẻ xe cho người giữ xe (B thừa biết xe đó không phải là của mình) và người giữ xe thấy B có thẻ xe nên tin tưởng giao xe để B đi.

Như vậy, rõ ràng B phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 139 BLHS.

Về dân sự, nếu người giữ xe làm mất xe của anh A khi anh A đã giao xe để quản lý thì anh A có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết “Tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản” theo Điều 559 BLDS.

Về tư cách tố tụng thì người bị hại là người giữ xe, A là nguyên đơn dân sự